Chín tháng năm 2026, mặt bằng giá trên địa bàn thành phố chịu áp lực tăng nhưng cơ bản vẫn được kiểm soát. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu và gas đun duy trì ở mức cao trong nhiều thời điểm theo diễn biến thị trường thế giới, làm gia tăng chi phí vận tải, sản xuất; cùng với đó, giá một số nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng, tác động đến giá thành sản phẩm và dịch vụ.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2026 là 101,18%, tăng 1,18% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước CPI tăng 5,71% và tăng 5,57% so với tháng 12 năm 2025. Bình quân quý III tăng 0,91% so với cùng quý năm trước và bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,71%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 6,52%, khu vực nông thôn tăng 4,98%; 11/11 nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng.
Tính chung 9 tháng, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, 11/11 nhóm đều có chỉ số giá tăng so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng cao nhất thuộc nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng, tăng 8,23%, chủ yếu do giá dầu hỏa, gas đun, tiền thuê nhà và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Nhóm giao thông tăng 6,30%, chủ yếu do giá xăng, dầu diezel tăng, qua đó tác động đến chi phí vận tải và giá một số dịch vụ liên quan.
Giá vàng: Chín tháng năm 2026, giá vàng trong nước biến động tăng theo xu hướng của giá vàng thế giới và duy trì ở mức cao so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng tăng 41,55% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, chỉ số giá vàng tăng 2,70% so với tháng trước; giá vàng bình quân đạt 14.395 nghìn đồng/chỉ, tăng 379 nghìn đồng/chỉ.
Giá đô la Mỹ: Trái với diễn biến của giá vàng, giá đô la Mỹ trong tháng 9 có xu hướng giảm nhẹ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 giảm 0,70% so với tháng trước; giá bình quân đạt 2.619,0 nghìn đồng/100 USD, giảm 18.528 đồng/100 USD. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn: Thống kê thành phố Hải Phòng