CỔNG CƠ SỞ DỮ LIỆU THÔNG TIN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Hoạt động tài chính, ngân hàng tháng 10 và 10 tháng năm 2025

   Về lĩnh vực tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 10/2025 ước đạt 17.418,8 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa đạt 9.079,2 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 6.725 tỷ đồng. Ước 10 tháng/2025 thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 162.875,7 tỷ đồng, đạt 109,68% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao và tăng 32,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 89.283,4 tỷ đồng, đạt 119,55% và tăng 43,33%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 69.116 tỷ đồng, đạt 103,78% và tăng 19,29%.

   Tổng chi ngân sách địa phương tháng 10/2025 ước đạt 5.529,9 tỷ đồng, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 2.402,6 tỷ đồng; chi thường xuyên đạt 3.105,6 tỷ đồng. Ước 10 tháng/2025, tổng chi ngân sách địa phương đạt 58.808,5 tỷ đồng, đạt 82,05% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: Tổng chi đầu tư phát triển đạt 26.384,6 tỷ đồng, đạt 73,85%; chi thường xuyên đạt 31.021,9 tỷ đồng, đạt 91,16%. 

   Về lĩnh vực ngân hàng, trong tháng 10, các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất nhìn chung phù hợp với định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể: Tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, lãi suất 0,1% - 0,4%/năm; tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, lãi suất 4,5% - 5,1%; tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, lãi suất ổn định ở mức 5,8% - 6,0%/năm. Lãi suất cho vay tiếp tục giảm, nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ người dân phục hồi sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Lãi suất cho vay bằng VND ngắn hạn từ 4,0% - 7,3%; lãi suất cho vay VND trung và dài hạn từ 7,5% - 10,8%.

   Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước thực hiện đến 31/10/2025 đạt 632.289 tỷ đồng, tăng 10,82% so với 31/12/2024. Chia ra: Huy động tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn ước đạt 400.828 tỷ đồng, tăng 5,49% so với 31/12/2024, chiếm tỷ trọng 63,39%; tiền gửi thanh toán ước đạt 227.037 tỷ đồng, tăng 21,40%, chiếm tỷ trọng 35,91%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.424 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,7%.
   Tổng dư nợ cho vay đến 31/10/2025 ước đạt 482.645 tỷ đồng, tăng 17,65% so với 31/12/2024. Chia ra: Cho vay ngắn hạn ước đạt 290.705 tỷ đồng, tăng 11,11% so với 31/12/2024, chiếm tỷ trọng 60,23%; cho vay trung, dài hạn ước đạt 191.940 tỷ đồng, tăng 27,92%, chiếm tỷ trọng 39,77%. 

   Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

   Tình hình giá cả thị trường tháng 10 năm 2025 có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước. Sự giảm giá chủ yếu đến từ một số mặt hàng trong nhóm lương thực, thực phẩm; ngược lại, giá một số mặt hàng rau, củ, quả tăng mạnh do ảnh hưởng tiêu cực từ mưa bão gây ngập úng. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2025 giảm 0,03% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước CPI tăng 1,97% và tăng 2,76% so với tháng 12 năm 2024. Bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước. 
   Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2025 giảm 0,03%, xu hướng biến động có sự khác biệt giữa các khu vực: Khu vực thành thị giảm 0,08% nhưng khu vực nông thôn tăng nhẹ, tăng 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 06 nhóm hàng có xu hướng tăng giá và 05 nhóm hàng có xu hướng giảm giá, tất cả đều duy trì ở mức biến động nhẹ.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,97%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,8%, khu vực nông thôn tăng 2,13%; trong 11 nhóm hàng chính, có 06 nhóm tăng giá, và 05 nhóm có chỉ số giá giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước; trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá và có 04 nhóm giảm giá.

   Các yếu tố làm tăng CPI 10 tháng năm 2025

   Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,04%, hầu hết các mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Thuốc các loại tăng 1,94%, dụng cụ y tế tăng 0,8%, riêng nhóm dịch vụ y tế tăng 17,13%, trong đó: khám chữa bệnh ngoại trú tăng 9,59% và khám chữa bệnh nội trú tăng 22,03%, chủ yếu do áp dụng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố về áp dụng giá dịch vụ y tế.

   Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,69%, chủ yếu do giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng. Trong đó, chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 11,2%, do giá nguyên vật liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng; điện sinh hoạt tăng 7,19%, do nhu cầu sử dụng điện tăng; than tăng 3,3%; Tuy nhiên, do Nhà nước điều chỉnh giá xăng, dầu các loại nên mặt hàng dầu hỏa giảm 7,95%, ga đun giảm 2,31% và nước sinh hoạt giảm 0,36%.
   Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,57%, chủ yếu tăng ở nhóm hàng như: Đồ dùng cá nhân tăng 3,88%, do giá nhóm đồ trang sức tăng 25,93% tăng theo giá vàng; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 2,45%.

    Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,47%, một số mặt hàng trong nhóm đều có xu hướng tăng như: Gạo các loại tăng 4,12%; bột mì và ngũ cốc khác tăng 4,97%; lương thực chế biến tăng 2,40%, thịt gia súc tăng 8,04%; thịt gia cầm tăng 1,26%; thịt chế biến tăng 6,77%; thủy sản tươi sống tăng 3,03%; thủy sản chế biến tăng 2,79%; các loại đậu và hạt tăng 4,36%; nước mắm nước chấm tăng 3,83%; quả tươi và chế biến tăng 3,53%, đường mật tăng 3,85%, đồ gia vị tăng 1,38%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,2%, riêng nhóm ăn ngoài gia đình tăng 6,12% do chi phí đầu vào tăng.

   Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,83%, chủ yếu do một số mặt hàng dịch vụ giáo dục tăng 2,09%; một số cơ sở giáo dục ngoài công lập tăng học phí năm học 2024-2025 và Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, Trường Cao đẳng Y dược Hải Phòng và Trường Đại học Hàng Hải điều chỉnh tăng học phí năm học 2025 -2026;
   Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,17%, \chủ yếu do một số mặt hàng trong nhóm thiết bị đồ dùng trong gia đình như: máy điều hòa tăng 1,4%, đồ điện tăng 0,55%, nhóm đồ dùng trong nhà tăng 1,39%, đồ dùng nấu ăn tăng 0,37%, đồng hồ treo tường và để bàn tăng 1,07%, giường tủ bàn ghế tăng 0,76%, đồ dùng bằng kim loại tăng 1,11%, đồ nhựa và cao su tăng 1,84%; hàng dệt trong nhà tăng 0,85%...
   Chỉ số giá nhóm nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,55%, tăng chủ yếu ở một số nhóm hàng thiết yếu như: Nước khoáng và nước có ga tăng 1,17%, bia các loại tăng 0,24% và thuốc hút các loại tăng 1,25%.

   Các yếu tố làm giảm CPI 10 tháng năm 2025

   Chỉ số nhóm giao thông giảm 3,21%, chủ yếu do tác động của giá xăng, dầu diezel do Nhà nước điều chỉnh giảm, riêng chỉ số giá nhóm xăng các loại giảm 9,87%, dầu diezel 0,05S giảm 6,99%. Tuy nhiên, nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại có chỉ số giá tăng 2,3% do chi phí nhân công và giá điện tăng; dịch vụ giao thông công cộng tăng 11,18% và nhóm phụ tùng xe ô tô, xe máy và xe đạp tăng 0,96% do giá nhập tăng.
   Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch có xu hướng giảm, giảm 0,43%, giảm chủ yếu do các nhóm hàng như: Thiết bị văn hóa giảm 3,1%, giảm chủ yếu ở mặt hàng tivi giảm 3,23%; thiết bị thể dục thể thao giảm 0,52%; đồ chơi trẻ em giảm 0,17%; vé xem phim, ca nhạc giảm 4,25%, giảm chủ yếu do các đơn vị có chương trình khuyến mại nên giảm giá vé xem phim.

   Chỉ số 02 nhóm còn lại có xu hướng giảm nhẹ: May mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,16% và nhóm bưu chính viễn thông có xu hướng giảm 0,14%, giảm chủ yếu là do những mặt hàng may mặc cuối vụ giảm giá, nhiều cửa hàng có nhiều chương trình sale chào mừng những ngày lễ lớn của đất nước.

   Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

  Chỉ số giá vàng tháng 10 tăng mạnh do ảnh hưởng của vàng thế giới tăng cao, chỉ số giá vàng tháng này là 110,37%, tăng 10,37% so với tháng trước; giá vàng bình quân tháng 10 là 13.948 ngàn đồng/chỉ, tăng 1.285 ngàn đồng/chỉ so với tháng trước; Ngược với giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng này có xu hướng giảm, với mức giảm 0,21%, và giảm 2.546 đồng/USD so với tháng trước.

 

Nguồn: Thống kê thành phố Hải Phòng

Tin khác
Phát huy hiệu quả chính sách “thưởng vượt thu ngân sách”
Thu ngân sách Hải Phòng 8 tháng qua ghi nhận nhiều kết quả nổi bật, nhất là thu nội địa có khả năng sớm hoàn thành kế hoạch năm. Theo thông tin...
Hoạt động tài chính, ngân hàng tháng 8 và 8 tháng năm 2025
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 8/2025 ước đạt 14.122,7 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa đạt 6.799,6 tỷ đồng; thu từ hoạt...
Hoạt động tài chính, ngân hàng tháng 7/2025
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 7/2025 ước đạt 11.753,9 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa đạt 5.465,2 tỷ đồng; thu từ...
Hoạt động tài chính, ngân hàng tháng 6/2025
Về lĩnh vực tài chính, ngay từ đầu năm 2025, Thành phố tiếp tục chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả, tích cực các giải pháp quản lý thu...
Hoạt động tài chính, ngân hàng tháng 5/2025
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố tháng 5/2025 ước đạt 8.942,7 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa đạt 2.990,4 tỷ đồng; thu từ hoạt...
< 1 2 3 > 
Thống kê truy cập
  • Đang online: 9
  • Hôm nay: 270
  • Trong tuần: 9084
  • Tất cả: 3932736
 

CỔNG CƠ SỞ DỮ LIỆU THÔNG TIN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Địa chỉ: Số 62 Võ Thị Sáu - Ngô Quyền - Hải Phòng
Điện thoại: 0225.3757389 - Fax: 0225.3757891
Email: congcosodulieu@haiphong.gov.vn
Người chịu trách nhiệm nội dung: Bà Trần Thị Hà Giang - Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Hải Phòng