Nghị
định 319 quy định chi tiết khoản 2, khoản 5 Điều 35, khoản 2 Điều 54 và
khoản 2a Điều 88 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ về thiết bị giám sát
hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh
khoang chở khách (sau đây gọi là thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông
đường bộ) đối với xe ô tô kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương,
xe cứu hộ giao thông đường bộ, xe vận tải nội bộ.
Nghị
định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
liên quan đến việc lắp, quản lý, kết nối, truyền, tiếp nhận, lưu trữ, khai
thác, chia sẻ dữ liệu từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ
trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; không áp dụng đối với
phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng quân đội, công an làm nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh.
Quy
định về việc lắp thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ
Nghị
định 319/2026/NĐ-CP gồm 4 Chương, 14 Điều, trong đó Điều 4 quy định về việc lắp
thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ. Theo đó, xe ô tô kinh
doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương, xe cứu hộ giao thông đường bộ,
xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình
ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo quy định tại khoản
2 Điều 35 và khoản 2 Điều 54 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ,
bảo đảm yêu cầu kỹ thuật theo quy định của Nghị định này và Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
Thiết
bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi
nhận hình ảnh khoang chở khách có thể tích hợp trong một hoặc nhiều thiết bị để
lắp trên xe nhưng phải đáp ứng đầy đủ chức năng, yêu cầu kỹ thuật của từng thiết
bị theo quy định của Nghị định này và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng
Bộ Công an ban hành.
Yêu
cầu về kỹ thuật đối với thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ
Về
yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ,
Điều 5 Nghị định 319 quy định, thiết bị giám sát trên phương tiện giao
thông đường bộ phải bảo đảm ghi nhận được các dữ liệu bao gồm: Dữ liệu thu được
từ thiết bị giám sát hành trình (Hành trình xe chạy, tốc độ vận hành của xe,
thông tin về số lần và thời gian dừng xe, đỗ xe, thời gian lái xe liên tục); Dữ
liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được ghi nhận liên tục
trong mọi điều kiện ánh sáng về hình ảnh của người lái xe; Dữ liệu thu được từ
thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách được ghi nhận liên tục trong mọi điều
kiện ánh sáng (Hình ảnh trong khoang chở khách, hình ảnh người lên xe, người xuống
xe); Các dữ liệu khác theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng
Bộ Công an ban hành.
Thiết
bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ có chức năng tự động phát hiện,
tự động cảnh báo an toàn đối với hành vi vi phạm pháp luật, hành vi gây mất an
toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, người trong
khoang chở khách được cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành.
Trường
hợp thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ thực hiện chức năng
được quy định nêu trên bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo thì phải thực hiện theo
quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Quy
định về việc truyền, lưu trữ, khai thác, chia sẻ, xử lý dữ liệu thu được từ thiết
bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ
Đối
với việc truyền dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao
thông đường bộ, Nghị định quy định:
Dữ
liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình phải được truyền về máy chủ dịch
vụ, từ máy chủ dịch vụ truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian
thực;
Dữ
liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận
hình ảnh khoang chở khách được truyền về máy chủ dịch vụ và từ máy chủ dịch vụ
truyền về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông theo thời gian thực là dữ liệu hành
vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe,
hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái
xe, hành vi vi phạm pháp luật của người trong khoang chở khách.
Đối
với việc lưu trữ dữ liệu, Nghị định quy định:
Dữ
liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình được lưu trữ trên thiết bị này ít
nhất 30 ngày, trên máy chủ dịch vụ ít nhất 01 năm, trên máy chủ Cục Cảnh sát
giao thông ít nhất 03 năm;
Dữ
liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được lưu trữ trên thiết
bị này ít nhất 03 ngày, dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang
chở khách được lưu trữ trên thiết bị này ít nhất 10 ngày;
Dữ
liệu hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người
lái xe, hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người
lái xe, hành vi vi phạm pháp luật của người trong khoang chở khách được lưu trữ
trên máy chủ dịch vụ ít nhất 03 tháng, trên máy chủ Cục Cảnh sát giao thông ít
nhất 03 năm.
Hết
thời hạn lưu trữ nêu trên, dữ liệu được xóa, hủy theo quy định của pháp luật và
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành. Đối với các trường
hợp dữ liệu đang phục vụ việc xác minh, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố
cáo, điều tra thì dữ liệu được tiếp tục lưu trữ trên máy chủ Cục Cảnh sát giao
thông cho đến khi kết thúc vụ việc.
Việc
lưu trữ, truyền, khai thác, chia sẻ, xử lý dữ liệu thu được từ thiết bị giám
sát trên phương tiện giao thông đường bộ về máy chủ dịch vụ, từ máy chủ dịch vụ
về máy chủ Cục Cảnh sát giao thông và việc chia sẻ dữ liệu với các cơ quan có
liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu
cá nhân và quy định khác của pháp luật liên quan. Không được sử dụng dữ liệu
thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ để xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, các quyền
và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức.
Dữ
liệu thu được từ thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ được sử
dụng làm căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm về trật tự,
an toàn giao thông đường bộ, vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật; phục
vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường
bộ, vận tải đường bộ.
Nghị
định 319/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2027, trừ quy định tại
khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 12, cụ thể như sau:
Quy
định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe đối với xe ô tô kinh doanh vận
tải hành khách dưới 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô kinh doanh
vận tải hàng hóa (trừ xe ô tô đầu kéo), xe vận tải nội bộ tại Điều 4 Nghị
định này thực hiện từ ngày 01/01/2028.
Quy
định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh
vận tải hành khách trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4
Nghị định này thực hiện từ ngày 01/01/2029.
Quy
định lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh
vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) đến 29 chỗ
(không kể chỗ của người lái xe) tại Điều 4 Nghị định này thực hiện từ
ngày 01/01/2030./.