Với
kết quả này, thành phố Hải Phòng hiện có 2 Di sản thế giới liên vùng gồm Di sản
thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà và Quần thể di tích và danh
thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Tòa Cửu phẩm Liên hoa Chùa Côn Sơn.
Hồ
sơ đề cử Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc,
với cốt lõi là Phật giáo Trúc Lâm - do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập -
mang đến sự đóng góp đặc biệt và lâu dài cho di sản văn hóa và tinh thần của
nhân loại. Địa danh đề cử hoàn toàn phù hợp với mục tiêu cơ bản của UNESCO là
duy trì các giá trị chung của nhân loại về hòa bình, hòa giải và hòa hợp, đặc
biệt là trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu.
Để
chứng minh rằng di sản được để cử đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của Các giá trị
nổi bật toàn cầu, tính toàn vẹn, tính xác thực và các yêu cầu về bảo vệ và quản
lý, Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế
(ICOMOS) trong 13 năm qua để chuẩn bị hồ sơ này, bao gồm cả chuyến khảo sát
tham vấn ban đầu của ICOMOS được thực hiện vào năm 2015.

Rừng thông, bãi rễ Côn Sơn.
Quần
thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc nằm trên địa
bàn 03 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh gồm 12 điểm di tích.
Trong đó tỉnh Quảng Ninh gồm 05 điểm: Thái Miếu, chùa Lân, chùa Hoa Yên, chùa
Ngọa Vân, bãi cọc Yên Giang; thành phố Hải Phòng gồm 05 điểm: chùa Côn Sơn, đền
Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai, động Kính Chủ, chùa Nhẫm Dương; tỉnh Bắc Ninh gồm 02
điểm: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà.
5
điểm di tích trên địa bàn thành phố Hải Phòng được đánh giá là những di tích lịch
sử, danh thắng tiêu biểu, đang bảo lưu những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
đặc sắc không chỉ của Việt Nam mà còn mang giá trị nổi bật toàn cầu, đáp ứng đầy
đủ các tiêu chí 3 và 6 để ghi danh Di sản thế giới, gồm:
Tiêu
chí (III): Liên minh chiến lược giữa Nhà nước (Hoàng gia nhà Trần), tôn giáo
(Phật giáo Trúc Lâm) và nhân dân phát triển từ quê hương (dãy núi Yên Tử) đã tạo
nên một truyền thống văn hóa độc đáo có ý nghĩa toàn cầu, định hình bản sắc dân
tộc và thúc đẩy hòa bình, an ninh cho cả khu vực rộng lớn hơn.
Tiêu
chí (VI): Phật giáo Trúc Lâm, được khởi xướng và phát triển chủ yếu bởi các
thành viên Hoàng gia nhà Trần, là một minh chứng có ý nghĩa toàn cầu về cách một
tôn giáo, được hình thành từ nhiều tín ngưỡng khác nhau, bắt nguồn và phát triển
từ quê hương tâm linh của nó ở dãy núi Yên Tử, đã ảnh hưởng đến xã hội thế tục,
qua đó góp phần củng cố quốc gia, đảm bảo hòa bình và hợp tác trong khu vực.
Chùa
Côn Sơn

Tam quan chùa Côn Sơn.
Chùa
Côn Sơn (tên chữ Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, tục gọi là chùa Hun), nằm trên địa
bàn phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng. Chùa khởi dựng từ thời Đinh - Tiền
Lê (thế kỷ 10 -11). Thời Trần, chùa là một trong ba trung tâm nổi tiếng nhất của
Phật giáo Trúc Lâm, cả ba vị Tam Tổ Trúc Lâm đều đã từng tu hành, thuyết pháp tại
đây. Chùa được Đệ Nhị Tổ Pháp Loa tôn tạo, mở rộng năm 1329 với nhiều hạng mục
công trình từ chân lên đến đỉnh núi Côn Sơn. Chùa cũng là nơi trụ trì lúc cuối
đời của Đệ Tam Tổ Huyền Quang tôn giả.
Chùa
Côn Sơn còn lưu giữ được nhiều dấu ấn kiến trúc các thế kỷ 14, 17-19 cùng nhiều
cổ vật như Đăng Minh bảo tháp, bia đá, tượng thờ, văn bia thế kỷ 14 đến 18.., với
16 tấm bia đá ghi lại đầy đủ quá trình lịch sử của chùa. Các bia “Thanh Hư Động”
- bút tích của vua Trần Nghệ Tông, tạo tác niên hiệu Long Khánh (1372-1377),
bia “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” tạo tác năm Hoằng Định thứ 8 (1607) và bộ tượng Tam
Thế Phật (thế kỷ 17) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Nhiễu tháp Đăng Minh chùa Côn Sơn.
Kết
quả khai quật khảo cổ học các năm 1979, 2000, 2005, 2012, 2014 cho thấy cả một
hệ thống di vật từ thời Trần đến thời Nguyễn tại chùa Côn Sơn. Dấu tích thời Trần
được bảo lưu tại nhiều hạng mục như Thượng điện, vườn tháp, Tổ đường, nền móng
Cửu Phẩm Liên Hoa được Đệ Tam Tổ Huyền Quang kiến tạo. Các thời Lê sơ, Mạc tiếp
theo dấu tích chủ yếu là di vật sinh hoạt hàng ngày hoặc gạch ngói tu bổ, nhưng
cho đến thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn thì mặt bằng di tích vẫn tiếp nối thời
Trần, bởi ngay trên nền di tích Cửu Phẩm Liên Hoa thời Trần là dấu tích Cửu Phẩm
Liên Hoa của các thời kỳ sau này, cùng hai cụm kiến trúc nổi bật là chùa chính
và Tổ đường.
Chùa
Côn Sơn còn một số đền thờ các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên
Đán, cùng với Bàn Cờ Tiên, suối Côn Sơn, Ngũ Nhạc linh từ... hợp thành một quần
thể di tích, danh thắng nổi tiếng. Các di tích, danh thắng này đều tọa lạc ở những
vị trí đắc địa - hậu chẩm tựa vào tổ sơn Ngũ Nhạc, hai bên tỳ vào hai dãy núi
Ngũ Nhạc và Kỳ Lân tạo thế tả thanh long, hữu bạch hổ, Minh đường nhìn ra hồ
Côn Sơn, tiền án là dãy núi An Lạc...
Lễ
hội chùa Côn Sơn, được tổ chức trong các ngày 16 - 23 tháng Giêng âm lịch và
kéo dài suốt 3 tháng mùa xuân để tưởng niệm ngày viên tịch của Đệ Tam Tổ Huyền
Quang tôn giả với nhiều nghi lễ và diễn xướng mang đậm tinh thần Phật giáo. Năm
2012, Lễ hội chùa Côn Sơn đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh Di sản
văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đền
Kiếp Bạc

Nghi môn Đền Kiếp Bạc.
Đền
Kiếp Bạc nằm trên địa bàn phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng, thờ Hưng Đạo
Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) - anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, một
trong những danh nhân lịch sử được người Việt tôn làm Thánh. Sau cuộc kháng chiến
chống đế chế Mông Cổ lần thứ nhất (1258), Hưng Đạo Đại Vương đã chọn Vạn Kiếp lập
đại bản doanh, xây dựng phòng tuyến quân sự vùng Đông Bắc. Tại đây, Ngài đã viết
những tác phẩm bất hủ như ‘‘Vạn Kiếp tông bí truyền thư’’, “Hịch tướng sĩ
văn”,...hoạch định chiến lược, sách lược quân sự. Ngày 20 tháng 8 năm Hưng Long
thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại Vương qua đời tại tư dinh. Vua Trần sắc chỉ cho nhân
dân lập đền thờ, nay là đền Kiếp Bạc.
Đền
Kiếp Bạc được xây cất ở nơi vốn là phủ đệ, thái ấp, nơi Hưng Đạo Đại Vương huấn
luyện quân sỹ. Đền là đại diện tiêu biểu của Đạo giáo Đại Việt, đồng thời cũng
thể hiện sự đồng hành với Phật giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa thời bấy giờ.
Đây là vị trí đắc địa về phong thủy, hình thế hiểm yếu, tứ linh quần tụ, chung
đúc khí thiêng..., là đầu mối huyết mạch giao thông thuỷ bộ trấn giữ cửa ngõ
phía Đông kinh thành Thăng Long xưa, có tầm quan trọng an ninh, quốc phòng bậc
nhất của Đại Việt. Chính vì vậy, Hưng Đạo Đại Vương đã xây dựng nơi đây thành một
căn cứ quân sự, một quân cảng lớn nhất Đại Việt. Sau khi Ngài mất, các triều đại
đương thời và tiếp nối đều cùng nhân dân tôn vinh, thờ cúng. Dần dần đền Kiếp Bạc
trở thành một trung tâm tín ngưỡng linh thiêng bậc nhất của đất nước.

Lễ hội quân trên sông Lục Đầu - Lễ hội mùa thu Kiếp Bạc.
Hệ
thống các công trình kiến trúc ở đền Kiếp Bạc đã được tu bổ nhiều lần qua các
thời Trần, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng. Thời Nguyễn, việc trùng tu diễn ra liên tục
và đều được văn bia tại đền ghi lại, phần lớn còn nguyên gốc, được xây dựng
tuân thủ nguyên tắc âm dương, ngũ hành. Từ núi Trán Rồng (tượng dương), các
công trình kiến trúc phát triển ra sông Lục Đầu (tượng âm), đền Kiếp Bạc ở
trung tâm, bên tả có đền - chùa Nam Tào, bên hữu có đền - chùa Bắc Đẩu... Phủ đệ
và cũng là căn cứ luyện thủy binh của Hưng Đạo Đại Vương trước đây nằm ở phía
sau núi, bên dòng sông Vang chảy từ núi Huyền Đinh xuống đổ ra Lục Đầu Giang.
Toàn
bộ các kiến trúc của đền Kiếp Bạc hiện nay nằm chồng lên nhiều lớp văn hoá của
các kiến trúc thuộc ngôi đền xưa hơn và phủ đệ của Trần Hưng Đạo. Đặc biệt,
phía sau đền Kiếp Bạc, năm 1972 khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích nền nhà của Trần
Hưng Đạo, minh chứng cho ghi chép của chính sử rằng đền thờ được xây dựng ngay
trên nền nhà cũ của Ngài sau khi Ngài từ trần. Các dấu tích khảo cổ học minh chứng
lịch sử ngôi đền bắt đầu từ thời Trần, qua thời Lê đến đầu thời Nguyễn.
Tại
đền Kiếp Bạc ngày nay, nhân dân trong vùng vẫn giữ gìn nguyên vẹn ngày giỗ và mở
lễ hội với nhiều hoạt động tôn vinh Đức Thánh Trần như: Lễ khai hội, Lễ tưởng
niệm, diễn xướng hầu Thánh, Lễ khai ấn, Lễ rước bộ và hội quân trên sông Lục Đầu,
Lễ cầu an và hội hoa đăng. Lễ hội đền Kiếp Bạc ngày 20/8 từ xưa luôn được ghi
trong điển lễ quốc gia, được tổ chức trọng thể và kéo dài nhiều ngày. Năm 2012,
Lễ hội đền Kiếp Bạc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh di sản văn
hóa phi vật thể quốc gia.
Chùa
Thanh Mai

Toàn cảnh chùa Thanh Mai.
Chùa
Thanh Mai nằm trên địa bàn phường Trần Nhân Tông, thành phố Hải Phòng, được khởi
dựng dưới thời Trần trên núi Phật Tích (còn gọi là núi Tam Ban), sau được Thiền
sư Pháp Loa mở rộng vào khoảng năm 1329, từ đó trở thành một đại danh lam gắn
liền với cuộc đời và sự nghiệp của Ngài cũng như vị Đệ Tam Tổ kế tiếp là Thiền
sư Huyền Quang.
Thời
Lê Trung Hưng, khoảng năm 1605-1607, chùa được trùng tu, cấu trúc gần như chùa
Hồ Thiên (Quảng Ninh). Chùa thời Lê Trung Hưng sau đó cũng bị hủy hoại, được dựng
lại vào năm 2009 với các thành phần kiến trúc được phục dựng theo văn bia thời
Lê Trung Hưng. Chùa còn giữ được nhiều cổ vật nguyên gốc như mộ tháp, bia đá,
tiêu biểu có 8 tháp đá thời Hậu Lê (Viên Thông bảo tháp nơi đặt xá lỵ Thiền sư
Pháp Loa được dựng năm 1334, trùng tu năm 1717; Tháp Phổ Quang dựng năm 1702;
Tháp Linh Quang dựng năm 1703...), 10 văn bia niên đại thời Trần đến Hậu Lê...
Phía
sau chùa Thanh Mai hiện nay có đường mòn dẫn lên đỉnh núi Phật Tích, trên có dấu
tích của một số di tích cổ khác, được gọi là Thanh Mai 2, 3, 4... Di tích Thanh
Mai 2 được khai quật khảo cổ học năm 2021 đã phát hiện 3 lớp kiến trúc của 3 thời
kỳ chồng lên nhau, cho thấy chùa Thanh Mai phát triển liên tục trong cả 3 thời
kỳ Trần, Lê Trung Hưng và Nguyễn, đặc biệt là kiến trúc thời Nguyễn được làm
khá cẩn thận, quy mô, chứng tỏ sự phát triển bền vững của Phật giáo Trúc Lâm dưới
thời Nguyễn tại đây.

Viễn Thông bảo tháp chùa Thanh Mai.
Bia
“Thanh Mai Viên Thông tháp bi”, ghi chép lại toàn bộ lịch sử Phật giáo Trúc
Lâm, được Đệ tam Tổ Huyền Quang hiệu đính, khắc năm 1362, được Thủ tướng Chính
phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2016 cho biết Thiền sư Pháp Loa là người
xây dựng, trụ trì, mở mang phong cảnh, đúc tượng Quan Âm, đào tạo tăng đồ. Trên
bia khắc bài thơ “Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự” của vua Trần Minh Tông.
Chùa
Nhẫm Dương

Chùa Nhẫm Dương.
Chùa
Nhẫm Dương nằm trên địa bàn phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng, được khởi dựng
thời Trần với tên gọi Thánh Quang tự, thuộc Thiền phái Trúc Lâm, từ thế kỷ 17
chùa trở thành chốn tổ phái Tào Động Việt Nam do Thiền sư Thủy Nguyệt trụ trì.
Chùa
Nhẫm Dương gồm có Phật điện, nhà Tổ, các hang Tĩnh Niệm và Thánh Hóa, hai ngôi
mộ tháp của Đệ Nhất Tổ Thủy Nguyệt thiền sư (Viên Quang Bảo Tháp, 1704) và Đệ
Nhị Tổ Tông Diễn thiền sư (Diệu Quang Bảo Tháp, 1709).
Nổi
bật nhất trong số các hang động ở chùa Nhẫm Dương là động Thánh Hóa, nơi Đệ Nhất
Tổ Thủy Nguyệt viên tịch. Đây cũng là nơi có tầng văn hóa cổ sinh - khảo cổ học
dày tới 4m, trong đó đã tìm thấy xương răng của nhiều giống loài động vật cổ
sinh như tê giác, voi châu Á, nai, lợn rừng, nhím, gấu..., đặc biệt là đười ươi
(Pongo) có niên đại 3-5 vạn năm cách ngày nay, rất nhiều di vật khảo cổ nhiều
thời kỳ từ Đông Sơn, Đông Hán đến Đinh - Tiền Lê, Lý - Trần, Lê sơ - Mạc - Lê
Trung Hưng - Hậu Lê, Nguyễn... Bộ sưu tập các di vật khảo cổ ở chùa Nhẫm Dương
góp phần khẳng định truyền thống định cư, sinh hoạt, giao thương... liên tục của
người tiền sử xưa và người Việt trong lịch sử cận và hiện đại ở khu vực chùa Nhẫm
Dương nói riêng, vùng cửa sông Bạch Đằng và rộng hơn nữa là dãy núi Yên Tử và
vùng phụ cận.
Động
Kính Chủ

Toàn cảnh Động Kính Chủ.
Động
Kính Chủ nằm trên núi Dương Nham, thuộc thôn Dương Nham, phường Phạm Sư Mạnh,
thành phố Hải Phòng. Núi Dương Nham còn có tên là Bổ Đà, Xuyến Châu, Thạch
Môn sơn. Động Kính Chủ là một trong nhiều hang động tự nhiên hình thành trong
lòng khối đá vôi Dương Nham, đã được con người sử dụng từ xa xưa. Vua Lý Thần
Tông (1116-1138) khi đến thăm động đã ban tặng hai chữ “Kính Chủ”, từ đó mà
thành tên. Động được người xưa xưng tụng là “Nam Thiên đệ lục động”.

Cửa
động Kính Chủ rộng hàng trăm m2, nền động cao khoảng 20m, trong động
có chùa cổ Dương Nham các ban thờ vua Lý Thần Tông, Huyền Quang tôn giả và tín
ngưỡng bản địa. Đặc biệt, trên các vách đá và trần hang còn có một hệ thống
trên 50 bia ma nhai của các danh nhân văn hoá lớn của Việt Nam các thời kỳ, ca
ngợi cảnh trí thiên nhiên của núi Dương Nham, động Kính Chủ. Trong đó có 02 tấm
bia thời Trần gồm bia khắc bài thơ “Hành dịch đăng gia sơn” và bia khắc 4 chữ lớn:
“Vân Thạch Thư thất” của Phạm Sư Mạnh (1300-1384) - một vị quan và nhà thơ thời
Trần, quê ở Kính Chủ - đã được khắc lên vách núi năm 1368, mô tả quang cảnh hào
hùng tại đại bản doanh của hai vua Trần và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo ở động
Kính Chủ khi chuẩn bị cho chiến trận Bạch Đằng năm 1288. Hệ thống bia ma nhai động
Kính Chủ đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2017.

Bia ma nhai Động Kính Chủ.
Nguồn:
Cổng Thông tin điện tử thành phố Hải Phòng