Từ
năm 2026, hàng loạt quy định mới liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp và tiền lương chính thức có hiệu lực, tạo ra những thay đổi đáng kể đối
với quyền lợi của người lao động.

Người
lao động Công ty TNHH Autel Robotics Việt Nam
ứng dụng kỹ năng vận hành hệ thống
tự động trong quá trình lắp ráp thiết bị.
Tăng
mức lương tối thiểu
Theo
Nghị định 293/2025/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2026, mức lương tối thiểu tháng tại 4
vùng được điều chỉnh tăng so với hiện hành. Cụ thể, vùng I đạt 5.310.000 đồng/tháng
(tăng 350.000 đồng), vùng II là 4.730.000 đồng/tháng (tăng 320.000 đồng), vùng
III là 4.140.000 đồng/tháng (tăng 280.000 đồng) và vùng IV đạt 3.700.000 đồng/tháng
(tăng 250.000 đồng).
Theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành, tiền lương tháng làm căn cứ
đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối
với người lao động làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện
lao động bình thường. Do đó, khi lương tối thiểu vùng tăng, mức lương tối thiểu
đóng bảo hiểm xã hội cũng tăng tương ứng, qua đó tác động trực tiếp đến mức
đóng và mức hưởng của người lao động.
Bên
cạnh lương tối thiểu tháng, Nghị định 293 cũng điều chỉnh mức lương tối thiểu
theo giờ, áp dụng đồng thời từ đầu năm 2026, góp phần bảo vệ quyền lợi cho người
lao động làm việc theo hình thức bán thời gian hoặc làm việc linh hoạt.
Mức
hưởng chế độ thai sản tăng
Một
trong những thay đổi được nhiều người lao động quan tâm là mức hưởng chế độ
thai sản. Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, tiền trợ cấp thai sản của lao động
nữ sinh con được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ sinh, nhân với thời gian nghỉ 6 tháng.
Đối
với lao động nam khi vợ sinh con, mức hưởng chế độ thai sản được xác định bằng
mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng trước khi nghỉ,
chia cho 24 ngày và nhân với số ngày nghỉ theo quy định. Như vậy, khi mức tiền
lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tăng, mức hưởng chế độ thai sản của cả
lao động nữ và lao động nam đều được điều chỉnh tăng tương ứng.
Trợ
cấp thất nghiệp tối đa được nâng lên
Luật
Việc làm năm 2025, có hiệu lực từ 01/01/2026, tiếp tục khẳng định mức hưởng trợ
cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm
thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng tối
đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng.
Điều
này đồng nghĩa với việc, khi lương tối thiểu vùng tăng, trần hưởng trợ cấp thất
nghiệp của người lao động cũng được điều chỉnh tăng theo. Đồng thời, mức tiền
lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa vẫn không vượt quá 20 tháng lương
tối thiểu vùng, theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH, qua đó bảo đảm sự cân đối của
quỹ bảo hiểm.
Tiền
lương ngừng việc cũng được điều chỉnh tăng
Theo
Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019, trong trường hợp người lao động phải ngừng
việc do lỗi của người lao động khác hoặc do sự cố khách quan như mất điện,
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, người lao động vẫn được trả lương
trong thời gian ngừng việc.
Cụ
thể, nếu ngừng việc do lỗi của người lao động khác, tiền lương ngừng việc không
được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Trường hợp ngừng việc do các nguyên
nhân khách quan, trong 14 ngày đầu, người lao động cũng được trả lương ít nhất
bằng mức lương tối thiểu vùng. Vì vậy, khi lương tối thiểu vùng tăng từ năm
2026, mức lương ngừng việc tối thiểu mà người lao động được hưởng cũng tăng
tương ứng.
Nguồn:
Báo và Phát thanh, Truyền hình Hải Phòng